0909 335 467

CHỮA BỆNH MẤM MÓNG CHÂN-CÁC BỆNH NẤM NÔNG

Nấm móng chân
Nấm móng chân

I. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH NẤM NÔNG– CHỮA BỆNH NẤM MÓNG CHÂN

Nhiễm nấm Dermatophyte được miêu tả từ thời cổ đại. Vào giữa thế kỷ thứ 19, David Grudy cùng các tác giả khác là Remark, Schoenlein, Lebert, Malmsten và Robin tiến hành các nguyên cứu chính trên nấm.

Năm 1865, Beigel đầu tiên miêu tả nấm tóc piedra sau khi phân lập từ bộ tóc giả. Những năm 90 của thế kỷ 19, Cerqueira đầu tiên miêu tả nấm da nigra, tên ban đầu là nấm sừng bàn chân màu đen ‘keratomycosis nigricans palmaris’.

Đến năm 1890, nhiều cách miêu tả, đặt tên và phân lập nguyên nhân gây bệnh được sử dụng. Năm 1892, tác giả Raymond sabouraund đã tạo ra môi trường nuôi cấy Sabouraud và được sử dụng đến ngày nay.

Năm 1920, Hopkin và Benham mở ra các nguyên cứu thực sự về nấm trên cơ thể người.

Nấm da migra và tóc piedra xuất hiện điển hình ở vùng khí hậu nhiệt đới, cả ở hai giới và các lứa tuổi (nhưng hay gặp hơn ở người trẻ). Trichosporon beigelii gây bệnh nấm tóc piedra trắng cũng được cho là nấm cơ hội.

Một số nấm dermatophytes hạn chế trong địa dư ( T. concentricum ở Nam Thái Bình Dương và Bắc Mỹ), một số khác có thể phát hiện ở hầu hết các nơi trên thế giới ( Trichophyton rubrum).

Ngoài ra, các yếu tố dịch tể như kinh tế xã hội, nghề nghiệp, không khí, thói quen sinh hoạt cũng tác động vào tỷ lệ mắc bệnh. Nấm nông dermatophytes thường xuất hiện giai đoạn sau tuổi dậy thì.

Tuy nhiên, nấm da đầu thướng xuất hiện ở trẻ nhỏ trước dậy thì mà yếu tố nguy cơ là sự tiếp xúc với người trong nhà mà bị nấm da đầu hay nấm bàn chân hay các yếu tố môi trường hay đội mũ đầu, bàn chải, dụng cụ cắt tóc.

Ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, không có sự tăng về tỷ lệ nhiễm nấm, tuy nhiên mức độ nặng và tái phát nặng hơn. Mặc dù nấm xuất hiện cả hai giới, nhưng nam giới thường gặp nấm bàn chân, nấm bẹn, và nấm quanh mongs hơn nữ giới.

II. CĂN SINH BỆNH HỌC

Nấm nông là nhiễm nấm chỉ chỉ sâm nhập vào tổ chức sừng, ví dụ lớp sừng thượng bì, tóc/lông, móng. Tùy vào mức độ xâm nhập của móng và đáp ứng miễn dịch của cơ thể mà trên lâm sàng có biểu hiện viêm hạn chế hoặc viêm rõ.

Biểu hiện Bệnh nấm Nguyên nhân hay gặp
Viêm hạn chế Lang benNấm nigraPiedra đenPiedra trắng Malassezia furfur, M. globosaHortaea wermeckii.Piedraia hortae.Trichosporon beigelii.
Viêm Nấm đầu, râu, mặt thân, bẹn, móng, bàn chân, bàn tay,Candida da Trichophyton,     Microsporum,Candida albicans và loài Candida khác.

Hortaea weneckii ( tên trước kia Exophiala werneckii) và Piedraia hortae là hai nguyên nhân từ môi trường. H. werneckii có thể được tìm thấy trong đất và nước thải và thậm chí cả trong vòi hoa sen trong điều kiện ẩm ướt.

Piedra là nhiễm nấm nông ở thân tóc. Nghĩa của từ Piedra thực sự là”đá” và các thành phần nấm kết dín với nhau để tạo thành các nốt hoặc “đá” dọc theo thân tóc.

Nguồn tiếp xúc với P.hortae (Piedra đen) được lây từ môi trường. Tuy nhiên, đôi khi nấm là một phần của hệ thực vật bình thường của da và niêm mạc, đặt biệt là ở bẹt và nách.

Nấm nông ( dermatophytose)là nhiễm nấm do 3 chủng nấm có khả năng xâm nhập, nhân lên ở trong tổ chức sừng ( lông/tóc, da và móng). Do đặc tính giống nhau về sinh học, hình dạng và sinh bệnh học nên chúng được gọi tên chúng là nấm dermatophytes gồm Microsporum, Trichophyton, và Epidermophyton.

Nấm dermatophyte không phải là tác nhân nội sinh. Sự xâm nhập của nấm tới người theo 3 con dường lây truyền.

Mặc dù nấm dermatophyte chỉ xâm nhập và gây bệnh ở lớp sừng, không hại, nhưng đôi khi nhiễm nấm mãn tính và lan rộng, gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người bệnh. Giai đoạn đầu tiên của nhiễm nấm liên quan đến  việc tiếp xúc và kết dín của mầm bệnh ( bào tử dạng arthroconidia) tới da.

Bảng phân loại nấm dermatophyte dựa trên cách lây truyền

TT Phận loại Cách lây truyền Biểu hiện lâm sàng đặc trưng
1 Anthropophilic Từ người sang người Viêm nhẹ hoặc không
2 Zôphilic Từ động vật sang  người Viêm nặng( mụn mủ và có thể có mụn nước), cấp tính
3 geophilic Từ đất sang người hoặc động vật Viêm trung bình

Nấm dermatophyte có khả năng sản xuất ra men keratinase ( men phá vỡ chất sừng) cho phép nấm xâm nhập vào tổ chức sừng. Mannans ở tế bào nấm có khả năng ức chế miễn dịch. Ở nấm T.rubrum, mannans cũng có thể giảm tăng sinh của tế bào sừng. Cơ chế này cũng có thể gây nên tình trạng viêm mạn tính của nhiễm nấm do T.rubrum.

Khi nấm xâm nhập kích thích yếu tố vật chủ phản ứng lại như sản xuất các chất ức chế men protease, hormon dẫn đến ức chế sự xâm nhập của nấm.

Mức độ nặng lâm sàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố của cơ thể: chất bã có khả năng ức chế nấm dermatophyte,  chính vì vậy mức độ hoạt động của bệnh phụ thuộc vào  số lượng và hoạt động của tiến bã tại vùng da khác nhau;phá vỡ hàng rào da hoặc tình trạng da ẩm ướt có khả năng xâm nhập của nấm; sự nhảy cảm có thể mang tính duy truyền hoặc khả năng của hệ miễn dịch chống lại nấm xâm nhập và nâng lên.

Nấm thân: là tình trạng nhiễm nấm dermatophytes trên da ở thân mình và các chi ngoại trừ lông tóc, mống và nếp gấp.

Nhiễm nấm thường hạn chế ở lớp sừng thượng bì và hay gặp ở vị trí vùng da hở, tuy nhiên cũng có thể xuất hiện ở bất kì vị trí nào. Nấm thân gặp chủ yếu ở vùng nhiệt đới. Bất kỳ tác nhân nấm dermatophytes đều có thể gây bệnh nhưng hay gặp nhất là T. rubrum, tiếp đến là T. mentagrophytes.

Bảng nấm dermatophyte hay gặp gây nấm thân

Nấm dermatophytes Lâm sàng
Anthropophilic  
Trichophyton rubrum Hay khu trú ở nang lông; tạo vòng đồng tâm; tái xuất hiện; nguyên nhân gây u hạt Majocchi; nguyên nhân hay gặp nhất
Trichophyton tonsurans Thường gặp ở người lớn chăm sóc trẻ nhỏ bị nấm
Epidermophyton floccosum Hay gặp ở vùng bẹn chân; tến khác eczema marginatum
Trichophyton concentricum Tên khác nấm nhiều lớp ( tinea imbricata) hay vảy rồng; mạn tính
Trichophyton mentagrophytesvar.interdigitale Gây nấm kẽ ngón chân, nấm bẹn và nấm móng
Zoophilic  
 Trichophyton mentagrophytesvar.mentagrophytes Có thể liên quan đến phản ứng Dermatophytid; gây nấm bàn chân viêm và nấm râu, thường liên quan đến tiếp xúc động vật có vú nhỏ
Microsporum canis Liên quan đến tiếp xúc với vật nuôi
Trichophyton verrucosum Có thể nhầm với nhọt do vi khuẩn; liên quan đến tiếp xúc với gia súc
Geophilic  
Microspomm gypseum Thường liên quan đến nghề nghiệp ngoài trời; tổn thương viêm hoặc mụn nước

Nấm bẹn là nhiễm nấm dermatophytes ở vùng bẹn và có thể lan rộng ra xung quanh lên vùng bụng và mông. Bệnh hay gặp hơn ở khí hậu nhiệt đới. Nguyên nhân hay gặp là Epidermophyton Floccosum, T. rurum và t. mentagrophytes.

Nấm bẹn gặp ở cả nam và nữ, nhưng ở nam nhiều hơn. bệnh gặp ở người béo và ra nhiều  mồ hôi. nấm bẹn thường liên quan đến nấm bàn chân.

Nấm bàn tay: là tổn thương nấm ở kẻ ngón và lòng bàn tay. Nhiễm nấm da dermatophytes ở vùng mu tay cso biểu hiện lâm sàng tương tự với nấm thân. Lý do chính của sự khác nhau này là không có tuyến bã ở vùng da lòng bàn tay, giống như nấm bàn tay và nấm bẹn: T. rubrum, T. mentagrophytes và E.floccosum. tuy nhiên, có 2 nấm không thuộc nấm dermatophytes là Scytalidium dimidiatum và S. hyalinum có thể gây nấm bàn tay.

Nấm râu là nhiễm nấm dermatophytes ở vùng có râu như mặt và cổ nam giới. nguyên nhân hay gặp là nấm dermatophyte zoophilic: T. mentagrophytes var. mentagrophytes và T. verrucosum, ít gặp hơn là M.canis hoặc T.rbrum.

Ngoài ra T. schoenleinii, T. violaceum và T. megninii có thể gặp ở một số vùng dịch tể. yếu tố liên quan có thể gặp như tiếp xúc với động vật, sử dụng dao cạo râu có thể nhiễm nấm.

Nấm da đầu: nấm đầu hay gặp ở trẻ nhỏ. nguyên nhân hay gặp là trichophyton và Mircrosporum. tùy theo vùng địa lý khấc nhau, phân bố nguyên nhân gây bệnh cũng khác nhau, nhưng chủ yếu là T.tonsurans, M. canis, M. audouinii. một số đặc điểm lâm sàng cho nguyên nhân khác nhau: T. tonsurans, M canis, M. audouinii.

Một số đặc điểm lâm sàng cho nguyên nhân khác nhau: T.tonsurans gây nhiễm nấm nội sợi tóc( endothrix) và tự gọi là nấm chấm đen ‘ black dot’ do toc bị gãy ở ngay sát da đầu; M.audouinii gây nhiễm nấm ngoài sợi tóc rụng, bong vảy, khô.

Mức độ nặng trên lâm sàng phụ thuộc  vào tác nhân gây bệnh và đáp ứng của cơ thể.

Nấm bàn chân: nấm bàn chân là nhiễm nấm dermatophytes ở vùng lòng bàn chân và kẽ ngón chân. Đối với nấm ở vùng mu bàn chân được coi như là nấm thân.

Bàn chân là vị trí hay gặp nhất của nhiễm nấm. hầu hết dân số đều từng bị nhiễm hoặc biểu hiện lâm sàng của nấm bàn chân. Bệnh hay xuất hiện ở người lớn hơn trẻ em và bị ở cả hai giơi nhau. Không có tuyến bã và môi trường ẩm khi sử dụng giầy là yếu tố quan trọng nhất trong phát triển nấm bàn chân.

Các nấm dermatophytes điển hình gây nấm bàn chân gồm: T.rubrum, T. mentagrophytes, E.floccosum và T tonsurans ( ở trẻ em). Tác nhân không phải  dermatophytes khác như: S. dimidiatum và S. huyalinum ( thể loãng lỗ và kẽ ngón)hay đôi khi là candida (thể kẽ ngón).

Nấm móng có thể là bệnh lý dai dẳng do có nhiều khó khăn trong kiểm soát: khó chuẩn đoán, điều trị kéo dài, tác dụng phụ của thuốc chống nấm đường toàn thân, tỷ lệ tái phát cao, đặc biệt nấm móng chân.

Nguyên nhân hay gặp là T.rubrum, t.mentagrophytes và E.floccosum ( hiếm gặp hơn là Microsporum). Nấm thường xâm nhập ban đầu ở vùng giường móng ở vị trí hyponychium dẫn đến dài sừng, màu vàng và có thể gây tách móng.

Nấm tiếp đến xâm nhập sâu hơn thậm chí có thể chiếm toàn bộ móng đặc biệt ở người đái tháo đường hoặc suy giảm miễn dịch. Một số nấm không phải dermatophyte ( Fusarium) có thể gây nên nấm ở người suy giảm miễn dịch.

Bảng nấm không phải  dermatophyte gây nấm móng

Nấm Biểu hiện lâm sàng
Chủng Fusarium Trắng bề mặt
Chủng Aspergillus Trắng bề mặt
Acremonium Trắng bề mặt
Scopulariopsis brevicaulis Hai bên màu vàng nâu
Scytalidium hyalinum Móng chuyển màu trắng
Scytalidium dimidiatum Móng chuyển màu đen

Các bài viết có thể bạn quan tâm:

1.  bài thuốc nam gia truyền đặc trị bệnh viêm da cơ địa

2. Triệu chứng bệnh viêm da cơ địa
3. Nguyên nhân bệnh viêm da cơ địa
4. Bệnh viêm da cơ địa có lây không?
5. Bệnh viêm da cơ địa có chữa được không?

Triệu chứng bệnh viêm da cơ địa Nguyên nhân bệnh viêm da cơ địa Bệnh viêm da cơ địa có lây không? Bệnh viêm da cơ địa có chữa được không?

Bình luận

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *