0909 335 467

CẤU TRÚC CỦA DA

I. ĐẠI CƯƠNG

Da là một cơ quan lớn nhất, chiếm khoảng 16% tổng trọng lượng của cơ thể, nằm ở mắt ngoài, tiếp xúc trực tiếp với môi trường sống.

Da là bộ phận vô cùng quan trọng, giống như một tấm áo tự nhiên bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân có hại bên ngoài và có chức năng bài tiết, điều hoà nhiệt độ cơ thể. Tổng diện tích da ở người trưởng thành là 1,2 – 2m2.

Da người có 3 lớp: lớp thượng bì, trung bì và hạ bì. Thượng bì có nguồn gốc phôi thai từ lá thai ngoài, bản chất là biểu mô. Trung bì có nguồn gốc phôi thai từ lá tha giữa, bản chất là mô liên kết. Ngoài ra còn có các phần phụ của da như lông, tóc, móng, tuyến mồ hôi và tuyến bã nhờn.

1-viem-da-co-dia-dung-thuoc-gi

II. MÔ HỌC DA THƯỜNG

1. Thượng bì ( Epidermis)

Thượng bì là lớp ngoài cùng của da, gồm chủ yếu là tế bào biểu mô sừng ( keratinocyte) chiếm tới 95%, ngoài ra còn có tế bào hắc tố, tế bào Merkel và tế bào Langerhans.

Thượng bì tác dụng như hàng rào bảo về da, gồm 4 lớp chính: tính từ ngoài vào trong là lớp tế bào sừng, lớp hạt, lớp gai, lớp đáy (lớp tế bào mầm). Riêng lòng bàn tay, bàn chân có thêm một lớp sáng nằm xen kẽ giữa lớp sừng với lớp hạt ( 5 lớp).

Thượng bì dày khoảng 0,4 – 1,5mm tuỳ theo vị trí trên cơ thể ( dày nhất ở lòng bàn tay, bàn chân, mỏng nhất ở vùng  sinh dục).

Thượng bì có các lớp sao:

a) Lớp tế bào đáy ( statum basale)

Lớp này còn gọi là lớp tế bào cơ bản (basal cells), là lớp xâu nhất của thượng bì, gồm những tế bào hình trụ, nhân có trục dài, thẳng đứng. Nguyên sinh chất ưa kiềm chứa các hạt sắc tố melanin. Các tế bào đáy có khả năng sinh sản rất mạnh để sản xuất các tế bào mới  thay thế các tế bào cũ đã biệt hoá.

Trong bào tương của lớp tế bào đáy xuất hiện các sợi keratin rất mảnh tập trung từ xung quanh nhân chạy ra gắn với các cầu nối gian bào (desmosome) và nữa cầu nối gian bào (hemidesmosome) giúp các tế bào liên kết với nhau một cách vững chắc.

Thời gian cần thiết cho một tế bào đáy phân chia, biệt hoá và di chuyển tới lớp sừng khoảng 14 ngày. Thời gian ở lớp sừng đến khi thành vảy da và bong ra khoảng 14 ngày nữa. Như vậy thời gian để tái tạo thượng bì là khoảng 4 tuần.

Trong tế bào đáy có cấu trúc Hemidesmosome, đó là một cấu trúc cảu khung tế bào đáy. Hemidesmosome là thành phần quan trongj của thượng bì và có rất nhiều bệnh da có liên quan đến bộ phận này.

Rải rác, xen giữa những tế bào đáy còn có tế ào hắc tố (melanocyte) có nguồn gốc từ các màu thần kinh, tập trung nhiều nhất ở mặt và các vùng tiếp xúc với ánh sáng. Đó là những tế bào sáng, có tua, chiếm khoảng 5 – 10 % tổng số tế bào đáy, mang chức năng sản xuất ra sắc tố (melanin).

Ngoài ra, ở lớp đáy còn có tế bào merket. Các tế bào này có liên quan chặc chẽ với các sợi tận cùng của thần kinh da và dường như có vai trò cảm giác.

Tế bào lớp đáy có cặp phân tử keratin là K5 ( trọng lượng phân tử là 58kDa( và K14 ( trọng lương phân tử là 50kDa).

b) Lớp tế bào gai (stratum spinosum)

Lớp này gồm các tế bào hình đa diện, nằm trên lớp đáy, xếp từ 6 đến 20 hàng, càng về phía ngoài các tế bào càng dẹp dần. Đây là những tế bào trưởng thành của biểu bì.

Dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại lớn, các tế bào gai nằm sát nhau, liên kết nhau bằng hình thức “khớp mộng” cho hình ảnh các ” gai”. Dưới kính hiển vi điện tử các tế bào này không nối hẳn với nhau mà chỉ tiếp xúc bằng các cầu nối gian bào, còn gọi là Desmosome.

Desmosome  là cấu trúc ở bề mặt của tế bào và phụ thuộc calci do bó sợi keratin từ trong tế bào chạy ra liên kết với phần xuyên màng và gắn với tế bào sừng kề bên. Đây kết cấu rất vững chắc với các tác nhân cơ học nên chức năng của Desmosome là ổn định tế bào, hạn chế tác động từ các sang chấn. Trong một số bệnh lí, điển hình là nhóm bệnh da bộng nước tự miễn Pemphigus, các cầu nối gian bào bị đứt gây nên biểu hiện lâm sàng trên da.

Nhân của tế bào gai to và rất hoạt động. Trong bào tương có cơ quan mới là hạt lamellar ( lamellar granuler) có dạng lá gấp lại hoặc dạng đĩa. Đây là cơ quan khi lên đến lớp hạt sẽ giải phóng ra các lá lipid  vào khoảng gian bào tạo thành phím mỡ cho da giúp da giữ nước, tánh khô da và tham gia vào quá trình gắn kết và bong vảy của lớp sừng.

Trong lớp tế bào gai vẫn tồn tại các lá sừng chạy từ nhân tế bào ra gắn với các cầu nối gian bào và vẫn có các keratin K5, K14. Ngoài ra còn xuất hiện thêm K1 (56, 5kDa) và K10 ( 67kDa)cho thấy quá trình sừng hoá đang diễn ra mạnh mẽ cảu tế bào gai.

Các tế bào gai cũng có khả năng sinh sản bằng gián phân. Hoạt động gián phân của lớp đáy và lớp gai đều mạnh mẽ và liên tục.

Trong lớp tế ào gai còn có tế bào tua duy chuyển hay còn gọi là tế bào Langerhans. Đó là loại tế bào riêng biệt, chủ yếu nằm ở lớp gai, một số ít ở trung bì, có giả túc đi len lỏi giữa các tế bào sừng lên đến tận lớp hạt và xuống tận màng đáy. Các tế bào này có khả năng miễn dịch nhờ vai trò trình diện kháng nguyên và tăng số lượng trong phản ứng tiếp xúc. Đây chính là tiền  đồn của hệ thống miễn dịch của tế bào cơ thể.

c) Lớp tế bào hạt (stratum granulosum)

Lớp này là những tế bào dẹp  nằm ở trên lớp gai, gồm 3-4 hàng tế bào, nhân sáng. Tế bào ở lớp này thể hiện hình ảnh sự thoái triển của tế bào biểu mô.

Bên trong bào tương của các tế bào hạt có nhiều hạt kẻatohyalin mà thành phần chủ yếu là tiền chất filaggrin và các lá keratin trung gian. Sự xuất hiện của các hạt này  chứng tỏ quá trình sừng hoá đang diễn ra. Các phân tử keratin K1 biến đổi thành K2; K10 thành K11. Trong quá trình chuyển dần từ tế bào hạt thành tế bào sừng, cấc tiền chất filaggrin sẽ chuyển thành filaggin và là thành phần chủ yếu của vỏ tế bào sừng.

d) Lớp tế bào sáng ( stratum lucidum)

Lớp này chỉ có ở lòng bàn tay, bàn chân và nằm ở trên lớp hạt  bao gồm những tế bào trong, thuần khuyết, không có nhân, dẹp, sắp xếp thành 2 hoặc 3 hàng. Các tế bào này chứa chất aleidin, hình thành do hoá lỏng các hạt sừng trong chứa nhiều nhóm disilfit.

e) Lớp tế bào sừng ( stratum corneum)

Lớp tế bào sừng (horny cells) là lớp ngoài cùng của da, có bề dày khoảng 0,1mm (100um); dày nhất là ở lòng bàn tay, lòng bàn chân từ 0,8 -1,4mm, mỏng nhất là ở mi mắt, 50um.

Đây là những tế bào có kích thước lớn nhất ở vùng thượng bì. Thành phần chủ yếu là chất sừng (keratin). Ở những lớp ngoài  cùng, các tế bào sừng trở nên hẹp hoàn toàn, màng bào tương dày, nhân biến mất, trong bào tương chỉ còn toàn những sợi sừng. Mỗi tế bào biến thành một lá sừng mỏng, chồng chất lê nhau. Do hiện tượng bong da sinh lý, trung bình mỗi ngày có một lớp sừng bong ra tạo nên nhưng vảy nhỏ như vảy phấn, quệt với mồ hôi và chất bã tạo thành ghét.

80- 85% chất keratin trong tế bào sừng là K1/K10.

Quá trình sừng hoá diễn ra liên tục giúp da luôn đổi mới. Quá trình này chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài môi trường và bên trong (gen, các yếu tố toàn thân).

Thượng bì có mạch máu và được nuôi dưỡng bằng dịch gian bào. các sợi thần kinh chỉ phân nhánh đến lớp dáy.

2.Trung bì (Dermis)

Trung bì là thượng bì ngăn cách nhau bỡi màng đáy ( hay còn gọ là màng cơ bản). Màng đáy dày chừng 0,5mm. Các dịch sẽ từ trung bì thấm qua màng đáy để nuôi dưỡng thượng bì. Ranh giới giữa thượng bì và trung bì không phải là một đường thẳng mà là đường lượn sóng. Phần sóng nhô lên phía trên là gai bì (hay nhú bì, hay còn gọi là trung bì nông). Phần sóng lượn xuống dưới giữa hai gai bì (hai nhú bì) gọi là màu liên gai ( hay là màu liên nhú). Cấu trúc của màng đáy gồm 4 thành phần:

-Nữa cầu nối gian bào (Hemidesmosome). Đường kính của nữa cầu nói gian bào khoảng 500- 1000 nm, gồm các sợi tơ karatin (tonofiament); sợi bám để nối màn bào tương với lá đặc ( Lamina densa).

– Lá sáng (Lamina lucida) dày khoảng 20 – 40 nm.

– Lá đặc (Lamina densa) dày khoảng 30- 40 nm trong đó chứa chất collagen.

– Dưới lá đặc (Sub-lamina densa) có nhiều bó vi sợi bản chất là collagen.

Trung bì gồm các lớp:

a) Trung bì nông ( papillary dermis)

lớp này là lớp nuôi dưỡng, rất mỏng chỉ khoảng độ 0,1mm. Trên bề mặt có những gai nhô lên còn gọi là nhú bì hay gai bì (papille) ăn sâu vào thượng bì. Các gai do tổ chức liên kết non tạo nên, ở đó có nhiều mau mạch. Các nhú bì có chiều cao và độ lớn khác nhau tuỳ theo vùng da. Da ở da lòng bàn tay, bàn chân các nhú có khi cao tới  0,2mm, ở da mặt thì lớp nhú rất mỏng.

b) Trung bì chính thức hay còn gọi là trung bì sâu (reticular dermis)

Đây là lớp chống đỡ, dày khoảng 0,4mm, gồm có:

– Những sợi chống đỡ

+ Sợi keo hay còn gọi là sợi hồ ( Collagen fiber). Đó là những sợi thẳng không phân nhánh, dài vài micromet. cấu tạo bỡi những chuỗi polypeptid, gồm 20 loại acid amin khác nhau, chủ yếu là glycin và arginin. Sợi keo có thể bị phá huỷ bỡi men collagenase do vi khuẩn tiết ra và được thay thế bằng các sợi mới.

Sợi keo là chất liệu chính làm cho da vững chắc trước tác động cơ học, lý học, hoá học từ bên ngoài. sợi keo tập trung chủ yếu ở trung bì sâu, một tí ở nhú bì, nang lông, tuyến bã, tuyến mồ hôi, quanh mạch máu.

+ Sợi chun (Elastic fiber) ( hay còn gọi là sợi đàn hồi): đó là những sợi rất mỏng, nhẵn có phân nhánh lượn sóng, bắt nguồn từ sợi keo, bắt màu đen khi nhuộm bạc, bắt màu nâu khi nhuộm actin.

+ Sợi lưới: sợi lưới tạo thành mạng lưới mảnh bao quanh mạch máu, tuyến nhô hôi, cấu trúc giống sợi keo.

+ Sợi liên võng (Reticulum fiber): sợi liên võng là dạng đặc biệt của sợi tạo keo, tập trung ở trung bì nông, phần phụ của da, mạch máu.

– Các chất cơ bản: các chất cơ bản là một màng nhầy gồm Tryptophan; Tyrosin; Mucopolysaccharide; Hyaluronic acid.

– Tế bào

+ Các tế bào sơ hình thoi hoặc hình elip, có nhân to hình bầu dục, chứa nhiều hạt ty lạp thể, có tác dụng làm da lên sẹo.

+ Tổ chức bào hình thoi hoặc hình sao, nó có thể biến thành thực bào, đại thực bào.

+ Dưỡng bào (Mastocyte) tham gia qua trình chuyển hoá heparin, histamin, acid hyaluronic.

– Mạch máu: trung bì chỉ có những mạch máu nhỏ tập trung ở gai bì và quanh các tuyến.

– Thần kinh: ở da có 2 loại thần kinh

+ Thần kinh não tuỷ có vỏ myelin, có nhánh đi riêng.

+ Thần kinh giao cảm không có vỏ myelin chạy trong các bao mạch máu.

Thần kinh da được tạo thành từ đám rối ở hạ bì, sau đó phân nhánh chạy thẳng tới các đầu gai bì rồi tận cùng ở lớp hạt. Ngoài những nhánh này, thần kinh da còn có những nhánh cuộn tròn lại thành những tiểu thể. Có 5 loại tiểu thể:

+ Tiểu thể Vater Pacini khu trú ở đáy trung bì, có nhiều ở lòng ngón tay, thu nhận cảm giác tiếp xúc ( sờ mó).

+ Tiểu thể Rufini thu nhận cảm giác nóng.

+ Tiểu thể Krause thu nhận cảm giác lạnh.

+ Tiểu thể Golgi- Mazzoni chi phối xúc giác.

+ Đĩa Meckel- Razzoni chi phối xúc giác.

+ Đĩa Meckel- Ranvier và tiểu thể Meissner cho cảm giác tiếp xúc.

3. Hạ bì ( Subcutaneous layer)

Hạ bì (còn gọi là lớp mỡ dưới da)chứa mô liên kết, nhiều mạch máu, thần kinh…đảm bảo cho da sống và thực hiện các chức năng của mình. Cấu trúc gồm nhiều tầng ngăn, liên kết tạo thành nhiều ô, chứa nhiều chất mỡ.

Ở hạ bì có nhiều mạch máu lớn.

Độ dày của hạ bì tuỳ thuộc vào thể trạng từng người. Đây là kho dự trữ mỡ lớn nhất của cơ thể, có vai trò bảo vệ cơ học chống những sức ép, chấn động đột ngột, xem như cái gối che chở da và những cấu trúc bên dưới và có vai trò điều hoà nhiệt độ.

4. Các thành phần phụ của da

a) tuyến mồ hôi ( Sweat glands)

Tuyến mồ hôi là tuyến ngoại tiết, có loại đổ trực tiếp qua da, có loại đổ ở phần đầu của nang lông, gồm 3 phần:

– Cầu bài tiết hình tròn khu trú ở trung bì sâu hoặc hạ bì, có 2 lớp tế bào giữa là những tế bào bài tiết, xung quang có lớp tế bào dẹp bao bọc.

– Ống dẫn đoạn qua trung bì có cấu trúc như phần cầu nhưng ít bài tiết.

– Ống dẫn đoạn qua thượng bì có đoạn xoắn ốc, càng ra ngoài càng xoắn nhiều, gồm một lớp tế bào có nhiễm hạt sừng.

Tuỳ vùng cơ thể  mà số lượng tuyến mồ hôi có khác nhau. Ở lòng bàn tay, bàn chân có khoảng 620 tuyến/1cm2, đùi có khoảng 120 tuyến/cm2. Toàn bộ cơ thể có khoảng 2,5 triệu tuyến.

Tuyến mồ hôi làm nhiệm vụ điều hoà thân nhiệt, góp phần làm cho thân nhiệt hằng định. Sự bài tiết mồ hôi được điều chỉnh bỡi thần kinh giao cảm ở xung quanh tuyến, các trung khu dọc tuỷ sống, vùng dưới đồi. Các chất như pilocarpin, cholin, adrenalin làm tăng tiết mồ hôi, atropin làm giả bài tiết mồ hôi.

b) Tuyến bã ( Sebaceous glands)

Tuyến bã là tuyến ngoại tiếp nằm cạnh nang lông, đổ chất tiết vào nang lông mở ra ở da, tạo da mền mại, chống thấm nước chống khô da.

Mỗi tuyến bã có nhiều thuỳ, mỗi thuỳ gồm nhiều lớp tế bào: ngoài cùng là những tế bào trẻ giống tế bào lớp cơ bản, rồi đến lớp tế bào to chứa những hạt mỡ, trong cùng có những lớp tế bào chứa đầy mỡ làm căn vỡ tế bào, rồi chảy ra ngoài thành chất bã (sebum). Ống tiết được cấu tạo bỡi tế bào sừng. Chất mỡ đào thải qua ống tuyến lên mặt da.

Có 2 loại tuyến bã nang lông:

-Tuyến bã nang lông dai: nằm ở da đầu, râu, lông nách, lông mu. Tại những nơi này tuyến bã không phát triển.

– Tuyến bã nang lông tơ: tuyến bã nang lông tơ nằm ở khắp nơi trên cơ thể trừ lông bàn tay, bàn chân không có tuyến bã.

Tuy tuyến bã nang lông tơ có kích thướt nhỏ hơn tuyến bã nang lông dài nhưng tế bào tuyến hoạt động mạnh hơn, có kích thướt lớn hơn, bài tiết chất bã nhiều hơn. Ở mặt, tuyến bã phát triển gấp 5 ở những nơi khác. số lượng tuyến bã thay đổi khấc nhau tuỳ vùng trên cơ thể. Ở da đầu, mặt ngực, lưng, tầng sinh môn có từ 400-900 tuyến/cm2 da. Các vùng còn lại có khoảng 100 tuyến/1cm2 da. tuyến bã ở miệng ( hạt fordyce) và ở rãnh quy đầu ( tuyến tyson) không đỗ qua tuyến mà bài tuyết trực tiếp qua niêm mạc.

c) Nang lông ( Hair follocles)

Lông là biến dạng nhiễm keratin của thượng bì. Nang lông là phần lõm xâu xuống của thượng bì chứa sợi lông và tiếp cần với tuyến bã. Cấu tạo của nang lông bao gồm: chất cơ bản của lông, lớp vỏ trong, lớp vỏ ngoài, gai lông. Các tế bào hắc tố có trong phần chất cơ bản của lông tạo lên màu sắc cho sợi lông. Các tế bào hắc tố có trong phần chất cơ bản của lông, sợi lông, lớp vỏ trong, lớp vỏ ngoài, gai lông. Các tế bào hắc tố có trong phần chất cơ bản của lông tạo nên màu sắc cho sợi lông.

Ở người có 2 loại lông:

– Lông nhẵn hay còn gọi là lông tơ: là sợi lông ngắn bao phủ phần lớn cơ thể trừ lòng bàn tay, bàn chân.

– Lông dài là những sợi lông dài, cứng và có đường kính lớn hơn lông nhẵn. Lông dài nằm ở các vùng da đầu ( tóc); xung quanh miệng ( râu), lông nách, lông mu.

Ngoài ra, thai nhi còn có lông tơ mịn mượt, lông này sẽ rụn đi trước khi sinh 2 tháng.

Một sợi lông gồm có 3 phần: Phần nằm trên thượng bì; phần mọc xuyên qua thượng bì; phần nằm ở trong chân bì ( trung bì). Phần nằm trong chân bì gọi là rễ lông. Nang lông có 3 lớp: lớp bao biểu mô ngoài, bao biểu mô trong và bao xơ.

Mỗi nang lông có 3 phần:

– Miệng nang lông thông ra mặt da. Cổ nang lông ( hay còn gọi là phễu nang lông): tại đây có miệng tuyến bã thông ra ngoài.

– Bao nang lông là phần dài nhất, ăn sâu xuống hạ bì.

d) Móng ( nails)

Móng là biến dạng của da, ở các đầu ngón tay, ngón chân. Móng là một tấm sừng mỏng dày chừng 0,3 – 0,5 – 0,75 mm nằm gọn trong một rãnh của mặt lưng (mu) đầu ngón.

Móng có 4 bờ, bờ tự do nằm ở đầu móng, ba bờ còn lại được các nếp da phủ lên gọi là bờ sau và hai bờ bên. bờ sau và nếp gấp vùng gốc móng. Phần móng ở bờ sau có hình vát gọi là rễ móng. Phần còn lại dày đều, hình khum gọi là thân móng. Thượng bì ở dưới móng tiếp với thượng bì da ở nếp gấp sau và các nếp gấp bên.

p/s: Nếu bạn hay người thân của bạn đang hàng ngày đối diện với những khó khăn do căn bệnh khó chịu này gây ra thì đừng ngần ngại nhấc máy gọi cho chúng tôi theo hotline 0934.335.467 để được tư vấn nhé. Hoặc bạn gửi câu hỏi của bạn ở đây, chúng tôi sẽ gọi lại tư vấn cho bạn.

Bình luận

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *